Mặc dù ông Trump tuyên bố đã đạt được một “khuôn khổ thỏa thuận” liên quan đến Greenland, nhiều khả năng đây chỉ là việc điều chỉnh, cập nhật hiệp ước ký từ năm 1951 văn kiện vốn đã trao cho Mỹ nhiều đặc quyền.
Sau khi Tổng thống Mỹ Donald Trump ngày 21/1 bất ngờ tuyên bố đã đạt được với NATO một “khuôn khổ thỏa thuận trong tương lai” liên quan đến Greenland, phần lớn các bên liên quan đều không đưa ra bình luận chi tiết về nội dung của thỏa thuận này.
Trước câu hỏi về các điều khoản, Tổng thư ký NATO Mark Rutte chỉ dẫn lại bài đăng của ông Trump trên mạng xã hội, dù nội dung bài viết hầu như không cung cấp thông tin đáng kể.
Khi phóng viên CNN đặt câu hỏi liệu thỏa thuận mới có đồng nghĩa với việc Mỹ sẽ sở hữu Greenland hay không, Tổng thống Donald Trump đã chững lại và tránh đưa ra câu trả lời thẳng thắn.
“Đây là một thỏa thuận mang tính lâu dài, có giá trị vĩnh viễn”, ông Trump nói.
Phản hồi này được cho là đã hé lộ nhiều điểm đáng chú ý về thỏa thuận mới. Theo các chuyên gia, việc Tổng thống Trump né tránh câu hỏi then chốt từ phóng viên CNN cho thấy thỏa thuận nhiều khả năng không giúp ông đạt được mục tiêu lâu nay là kiểm soát Greenland.
Từ những thông tin và phát biểu khá hạn chế của Tổng thống Donald Trump cùng Tổng thư ký NATO, các chuyên gia cho rằng “khuôn khổ thỏa thuận trong tương lai” thực chất sẽ xoay quanh việc điều chỉnh, cập nhật hiệp ước phòng thủ Greenland mà Mỹ và Đan Mạch ký kết từ năm 1951.
Tổng thống Trump cho biết thỏa thuận này sẽ cho phép Mỹ có “quyền tiếp cận toàn diện” đối với hòn đảo vì mục tiêu quốc phòng, bao gồm việc tăng cường hợp tác an ninh, như triển khai hệ thống phòng thủ Vòm Vàng tại Greenland, tương tự mô hình mà Israel.
Một người phát ngôn NATO cho biết thỏa thuận được cập nhật có thể bao gồm những điều khoản cụ thể nhằm hạn chế sự hiện diện và hoạt động của Nga cùng Trung Quốc tại Greenland, đồng thời mở rộng vai trò của NATO trên hòn đảo này.
Tuy vậy, theo các nhà quan sát, Mỹ thực tế đã đạt được phần lớn những mục tiêu đó, hoặc hoàn toàn có thể thực hiện mà không cần áp dụng các biện pháp mang tính cưỡng ép như cách tiếp cận của Tổng thống Donald Trump.
Liên quan tới “quyền tiếp cận”, hiệp ước ký năm 1951 đã trao cho Mỹ quyền “thực thi thẩm quyền tài phán độc quyền tại các khu vực phòng thủ của mình ở Greenland”. Với điều kiện không xâm phạm chủ quyền của Đan Mạch, Mỹ được phép cải tạo và mở rộng các khu vực phòng thủ, lắp đặt và bảo dưỡng trang thiết bị, bố trí lực lượng đồn trú, bảo đảm an ninh, thiết lập bưu điện và cửa hàng quân nhu, đồng thời kiểm soát việc ra vào cũng như hoạt động của tàu thuyền và máy bay.
Thỏa thuận này cũng cho phép Mỹ tự do di chuyển giữa các khu vực phòng thủ. Thậm chí, hiệp ước còn quy định luật pháp Đan Mạch không được sử dụng để cản trở việc ra vào các khu vực này của những nhân sự chủ chốt của Mỹ và các thành viên gia đình họ.
“Hiệp ước năm 1951 đem lại cho Mỹ sự linh hoạt rất lớn trong việc xác định đâu là lợi ích an ninh cần thiết và gần như luôn cho phép triển khai các biện pháp tương ứng”, bà Iris Ferguson, cựu phó trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ phụ trách khu vực Bắc Cực dưới thời Tổng thống Joe Biden, nhận xét. “Vì thế, xét trên lý thuyết, những thẩm quyền này đã sẵn có”.
Trong giai đoạn đỉnh điểm của Chiến tranh Lạnh, quân đội Mỹ từng bố trí hơn 10.000 binh sĩ tại Greenland. Khi đó, hòn đảo này giữ vai trò như một trạm radar then chốt để theo dõi các tên lửa của Liên Xô bay qua Đại Tây Dương, đồng thời từng được sử dụng làm nơi thử nghiệm các tiền đồn quân sự có khả năng chống chịu trước đòn tấn công hạt nhân.
Mỹ hiện vẫn duy trì một cơ sở của Lực lượng Không gian cùng các hệ thống radar công suất lớn tại Greenland, song việc gia tăng quân số sẽ đòi hỏi phải đầu tư nâng cấp tốn kém các cơ sở hạ tầng cũ, đồng thời xây dựng thêm nhà ở và hệ thống hậu cần trong quãng thời gian rất ngắn khi điều kiện thời tiết trở nên thuận lợi hơn.
Quân đoàn Công binh Lục quân Mỹ gần đây cho biết đang triển khai kế hoạch nâng cấp đường băng tại Căn cứ Không gian Pituffik, với tổng kinh phí dự kiến có thể lên tới 25 triệu USD. Động thái này cho thấy việc xây dựng và duy trì hạ tầng quân sự trong môi trường khí hậu khắc nghiệt của Bắc Cực đòi hỏi chi phí rất lớn.
Vị thế pháp lý của quân đội Mỹ tại Căn cứ Không gian Pituffik, nằm ở bờ tây bắc Greenland, đã được bảo đảm thông qua Thỏa thuận về Quy chế Lực lượng ký năm 1955. Theo hiệp ước này, binh sĩ Mỹ được quyền tự do tiếp cận và hoạt động tại Greenland, dù về mặt pháp lý khu vực này không thuộc lãnh thổ Mỹ.
Tuy nhiên, từ cuối thập niên 1980 đến nay, sự hiện diện của Mỹ tại căn cứ này đã bị thu hẹp đáng kể. Hiện chỉ còn khoảng 100 binh sĩ đồn trú, chủ yếu đảm nhiệm các nhiệm vụ cảnh báo sớm và phòng thủ tên lửa.
“Theo thông lệ tại tất cả các căn cứ của chúng tôi trên toàn cầu, Mỹ đều tiến hành đàm phán về vấn đề chủ quyền. Điều này không phải là ngoại lệ hay ưu đãi riêng chỉ áp dụng với Greenland”, ông Jim Townsend, cựu phó trợ lý bộ trưởng quốc phòng Mỹ phụ trách NATO và châu Âu, nhận xét. Ông cho rằng những diễn biến hiện nay thực chất chỉ là “bình mới rượu cũ”.
Liên quan đến việc thúc đẩy hợp tác an ninh, Greenland, Đan Mạch cùng các bên liên quan trong thời gian dài đã nhiều lần phát đi thông điệp sẵn sàng đối thoại và thương lượng với Mỹ.
Người đứng đầu ngành ngoại giao Greenland, bà Vivian Motzfeld, hồi đầu tháng nhấn mạnh cam kết tìm kiếm “lộ trình phù hợp” nhằm tháo gỡ các khác biệt và tăng cường hợp tác với Washington. Trong khi đó, các nhà lãnh đạo Bắc Âu, bao gồm cả Ngoại trưởng Đan Mạch, từ ngày 6/1 cũng khẳng định thỏa thuận ký năm 1951 luôn “mở ra khả năng mở rộng hợp tác về an ninh”.
Xét tới nỗ lực của Tổng thống Trump nhằm ngăn chặn Nga và Trung Quốc tiếp cận Greenland, hiện chưa có dấu hiệu cho thấy Mỹ sẽ phải đối mặt với sự phản đối. Việc Đan Mạch là thành viên NATO khiến nhiều người tin rằng Copenhagen sẽ đồng thuận với hướng đi này.
Tuần trước, thượng nghị sĩ Cộng hòa Mitch McConnell cho biết ông “chưa nghe thấy chính quyền đề xuất bất kỳ yêu cầu nào đối với Greenland mà người dân địa phương không sẵn lòng đáp ứng”.
Thủ tướng Đan Mạch Mette Frederiksen hôm 23/1 đã gặp Tổng thư ký NATO Mark Rutte và cùng nhất trí rằng liên minh cần tăng cường phối hợp về an ninh tại khu vực Bắc Cực. Bà cũng dự kiến tới Greenland để trao đổi với thủ hiến của hòn đảo này.
Tuy nhiên, Tổng thống Mỹ vẫn luôn là nhân tố khó đoán. Các đồng minh thừa nhận rằng, tương tự việc ông từng nhanh chóng rút lại tuyên bố đe dọa kiểm soát Greenland bằng vũ lực, ông cũng có thể dễ dàng đưa những quan điểm đó trở lại.
Dù đã lường trước khả năng xuất hiện thêm những bất ngờ, nhiều đồng minh vẫn khó che giấu sự thất vọng trước các thông điệp mà Tổng thống Mỹ đưa ra liên quan đến Greenland.
Ông Bjorn Soder, nghị sĩ thuộc Ủy ban Quốc phòng Thụy Điển, cho rằng dù NATO có những mối quan tâm chính đáng về an ninh ở Bắc Cực, động thái mở màn mang tính cứng rắn của Mỹ đang làm suy yếu các mối quan hệ trong nội bộ liên minh.
“Theo tôi, Mỹ đang đi sai hướng khi khơi lại vấn đề Greenland”, ông nói. “Khu vực của chúng tôi vốn rất ủng hộ Mỹ, nhưng giờ đây ngay cả những người từng thường xuyên lên tiếng ca ngợi Washington cũng đã bắt đầu thay đổi quan điểm”.
