Bộ trưởng Tài chính Mỹ Scott Bessent cho biết trong trường hợp thua kiện tại Tòa Tối cao, nước này sẽ phải chi trả lại hàng trăm tỷ USD thuế nhập khẩu.
Ông Bessent cho biết trong cuộc phỏng vấn với NBC ngày 7/9: “Nếu thuế nhập khẩu bị hủy bỏ, chúng tôi sẽ phải hoàn lại khoảng một nửa, và đây là điều bất lợi cho Bộ Tài chính”. Tuy nhiên, ông cũng khẳng định rằng nếu Tòa án ra phán quyết bác bỏ thuế nhập khẩu, ông “sẽ buộc phải thực hiện”.
Tuần trước, chính quyền Tổng thống Mỹ Donald Trump đã đề nghị Tòa Tối cao sớm hủy bỏ phán quyết của Tòa Phúc thẩm, theo đó cho rằng phần lớn các loại thuế nhập khẩu do ông Trump áp đặt lên nhiều quốc gia là trái luật.
Tuy nhiên, Tòa Tối cao có thể sẽ chỉ đưa ra phán quyết vào đầu mùa hè năm sau. Ông Bessent cho biết: “Tính đến tháng 6/2026, số thuế nhập khẩu dự kiến thu được khoảng 750–1.000 tỷ USD. Nếu khi đó phải hoàn trả, chắc chắn sẽ gây ra cú sốc lớn”.
Trong trường hợp chính phủ Mỹ buộc phải hoàn trả số thuế khổng lồ này, các doanh nghiệp và tổ chức nộp thuế sẽ được hưởng lợi với khoản thu chưa từng có tiền lệ.
Ngày 29/8, Tòa Phúc thẩm Liên bang khu vực Washington tuyên bố các mức thuế nhập khẩu mà ông Trump áp đặt theo Đạo luật Quyền Kinh tế Khẩn cấp (IEEPA) là trái pháp luật. Dù vậy, tòa vẫn cho phép duy trì các mức thuế này đến ngày 14/10 để chính quyền Trump có thời gian kháng cáo lên Tòa Tối cao. Trước đó, vào tháng 5, Tòa án Thương mại Quốc tế (CIT) tại Manhattan cũng đưa ra phán quyết tương tự.
Được Quốc hội Mỹ thông qua năm 1977 dưới thời Tổng thống Jimmy Carter, Đạo luật Quyền Kinh tế Khẩn cấp Quốc tế (IEEPA) trao cho tổng thống quyền điều tiết thương mại khi ban bố tình trạng khẩn cấp để ứng phó với “bất kỳ mối đe dọa bất thường nào đối với an ninh quốc gia, chính sách đối ngoại hoặc kinh tế Mỹ, có nguồn gốc hoàn toàn hoặc chủ yếu từ bên ngoài nước Mỹ”. Theo đạo luật, tổng thống có thể “ngăn chặn giao dịch, đóng băng tài sản” nhằm xử lý rủi ro, đồng thời phải báo cáo cho Quốc hội 6 tháng một lần. Trong trường hợp Mỹ bị tấn công, tổng thống còn có quyền tịch thu tài sản liên quan đến quốc gia, tổ chức hoặc cá nhân đứng sau hành động đó.
Ông Trump là tổng thống đầu tiên viện dẫn IEEPA để áp thuế, với lý do Mỹ rơi vào tình trạng mất cân bằng thương mại, suy yếu năng lực sản xuất và cần ngăn chặn dòng ma túy xuyên biên giới. Tháng 4 vừa qua, ông tuyên bố tình trạng khẩn cấp quốc gia, cho rằng Mỹ đã nhập khẩu nhiều hơn xuất khẩu trong nhiều thập kỷ.
Theo Tax Foundation, chính sách thuế của ông Trump hiện bao phủ gần 70% lượng hàng nhập khẩu vào Mỹ. Nếu đa số mức thuế này bị tòa án tuyên vô hiệu, tỷ lệ trên sẽ giảm xuống còn 16%.
Tuy nhiên, chính phủ Mỹ đã chuẩn bị các phương án dự phòng. Ngày 7/9, Cố vấn Kinh tế Nhà Trắng Kevin Hassett cho biết “vẫn còn nhiều quy định khác” có thể được sử dụng để duy trì các mức thuế, chẳng hạn như Mục 232 của Đạo luật Mở rộng Thương mại năm 1962. Đây là điều khoản từng được áp dụng để đánh thuế phần lớn ôtô và linh kiện nhập khẩu, cũng như toàn bộ thép và nhôm sản xuất ở nước ngoài. Theo quy định này, tổng thống có quyền áp thuế “nhằm ngăn chặn nhập khẩu gây đe dọa đến an ninh quốc gia” sau khi có kết quả điều tra thương mại.Một loại thuế không chịu tác động từ cuộc chiến pháp lý hiện nay là thuế áp lên hàng giá rẻ. Tháng trước, Mỹ đã chính thức bãi bỏ cơ chế de minimis về ưu đãi thuế, đồng thời siết kiểm tra hải quan đối với hàng nhập khẩu có giá trị từ 800 USD trở xuống.
