Sau chiến sự Ukraine và hàng nghìn lệnh trừng phạt nhằm vào Moskva, làn sóng rời bỏ Nga có thể khiến các doanh nghiệp do dự quay lại, ngay cả khi xuất hiện cơ hội.
Ngày 15/8, Tổng thống Mỹ Donald Trump và Tổng thống Nga Vladimir Putin đã có cuộc hội đàm kéo dài 3 giờ tại Alaska. Sau buổi gặp, hai bên chưa công bố bất kỳ thỏa thuận nào nhằm giải quyết hay tạm ngừng xung đột Nga – Ukraine. Tuy vậy, cả hai lãnh đạo đều khẳng định đã đạt được bước tiến quan trọng trong nhiều vấn đề.
Một thỏa thuận hòa bình, hoặc chí ít là sự tan băng trong quan hệ giữa Moskva và Washington, có thể mở ra cơ hội cho điều mà trước đây nhiều doanh nghiệp Mỹ xem là khó khả thi: hợp tác kinh doanh với Nga.
“Tôi thấy nhiều doanh nhân Nga đi cùng ông Putin, điều đó rất tích cực. Họ muốn hợp tác, nhưng điều này chỉ có thể diễn ra khi chiến sự được giải quyết”, ông Trump phát biểu trên chuyên cơ Không lực Một. Cùng tháp tùng Tổng thống Putin tới Alaska còn có Bộ trưởng Tài chính Nga Anton Siluanov và Giám đốc Quỹ đầu tư quốc gia Nga Kirill Dmitriev.
Tổng thống Mỹ cho hay nếu đàm phán tiến triển, ông sẽ bàn về “khả năng hợp tác kinh doanh” với Nga.
Các chuyên gia cho rằng khôi phục quan hệ kinh tế với Nga sẽ không dễ, nhất là khi nước này đã bị phương Tây cô lập về ngoại giao và kinh tế bằng hàng loạt lệnh trừng phạt trong những năm gần đây. Theo Phó chủ tịch Hội đồng An ninh Nga Dmitry Medvedev, hiện Nga đang chịu khoảng 30.000 lệnh trừng phạt từ phương Tây.
Các doanh nghiệp phương Tây đồng loạt rời bỏ Nga
Sau khi xung đột Nga – Ukraine bùng phát tháng 2/2022, hàng loạt doanh nghiệp phương Tây bắt đầu rút khỏi thị trường Nga. Tính đến nay, theo số liệu của Trường Quản lý Yale, hơn 1.000 công ty nước ngoài đã ngừng hoạt động, rút lui hoặc thu hẹp quy mô tại quốc gia này.
Một số doanh nghiệp bán lại tài sản hoặc chuyển giao quyền quản lý cho lãnh đạo địa phương, trong khi số khác chấp nhận từ bỏ hoàn toàn. Trường hợp của Danone và Carlsberg thậm chí còn bị chính quyền Nga sung công và bán lại tài sản.
Một số công ty như Renault, McDonald’s và Henkel đã ký thỏa thuận rời Nga, trong đó có điều khoản cho phép mua lại tài sản sau này, nhưng chi tiết không được tiết lộ.
Hiện nhiều tập đoàn Mỹ lớn như Apple, Goldman Sachs và MasterCard đã rút lui hoàn toàn, chỉ còn rất ít doanh nghiệp duy trì hoạt động, khiến cơ hội kinh doanh tại Nga suy giảm mạnh so với trước chiến sự.
Khoảng trống sau khi các doanh nghiệp phương Tây rời đi nhanh chóng được lấp đầy bởi công ty Trung Quốc, đồng thời Nga cũng tự phát triển thương hiệu thay thế. Ví dụ, Stars Coffee ra mắt ngay sau khi Starbucks rút lui, với logo gợi nhớ đến thương hiệu Mỹ.
Tháng 6/2022, chuỗi cửa hàng thức ăn nhanh thay thế McDonald’s bắt đầu hoạt động tại Nga dưới tên “Vkusno i tochka” (Ngon tuyệt, vậy thôi). Đến tháng 4/2023, các cửa hàng KFC cũ cũng trở lại thị trường với tên gọi Rostic’s.
Ngoài ra, sau thời gian dài vắng mặt, ngay cả khi quay trở lại, các doanh nghiệp phương Tây cũng khó có thể nhận được sự đón nhận nồng nhiệt từ người tiêu dùng Nga như trước.
Nga tìm được khách hàng mới cho dầu khí
Ngân sách Nga phụ thuộc đáng kể vào ngành dầu khí, lĩnh vực chiếm khoảng 30% tổng thu ngân sách, theo Viện Năng lượng Oxford. Đây cũng là nguyên nhân khiến phương Tây tập trung gây sức ép vào dầu khí, với mục tiêu buộc Moskva chấm dứt chiến sự tại Ukraine.
Sau khi xung đột bùng phát, Liên minh châu Âu (EU) đã cấm nhập khẩu dầu thô Nga bằng đường biển và cắt giảm mạnh việc mua khí đốt. Năm ngoái, tỷ trọng khí đốt Nga nhập khẩu qua đường ống vào EU chỉ còn 11%, giảm mạnh so với mức 40% năm 2021, trong khi trước đó EU từng là khách hàng năng lượng lớn nhất của Nga.
Tuy nhiên, Nga đã nhanh chóng thích ứng bằng cách chuyển hướng xuất khẩu sang thị trường châu Á, trong đó Trung Quốc và Ấn Độ trở thành khách hàng lớn nhất. Theo dữ liệu từ Vortexa, hiện 36% lượng dầu thô nhập khẩu của Ấn Độ có nguồn gốc từ Nga.
Mới đây, Tổng thống Mỹ cảnh báo sẽ áp thêm biện pháp trừng phạt đối với các quốc gia tiếp tục mua dầu Nga. Washington đã nâng thuế nhập khẩu với Ấn Độ thêm 25%, đưa tổng mức thuế lên 50%. Dù vậy, New Delhi khẳng định nguồn dầu từ Nga đóng vai trò thiết yếu đối với an ninh năng lượng của quốc gia hơn 1,4 tỷ dân.
Một trở ngại khác khiến doanh nghiệp Mỹ ít mặn mà với thị trường năng lượng Nga là việc dầu thô của nước này vẫn đang chịu cơ chế áp trần giá từ phương Tây.
Trong gói trừng phạt được thông qua giữa tháng trước, mức trần giá dầu Nga được hạ xuống 47,6 USD/thùng, thấp hơn so với mức 60 USD áp dụng từ cuối năm 2022. Theo quy định, các hãng vận tải biển và công ty bảo hiểm thuộc các nước tham gia lệnh trừng phạt không được phép cung cấp dịch vụ cho dầu Nga nếu giá bán vượt trần.
Trở ngại đối với hoạt động kinh doanh tại Nga
Kể cả với những doanh nghiệp vẫn duy trì hoạt động tại Nga, môi trường kinh doanh cũng trở nên khó khăn hơn nhiều so với trước. Từ năm 2022, các ngân hàng Nga bị loại khỏi hệ thống thanh toán toàn cầu SWIFT, vốn kết nối hàng nghìn tổ chức tài chính quốc tế, khiến việc chuyển và nhận tiền từ nước ngoài gặp nhiều trở ngại.
Tháng 2, Janis Kluge nhà nghiên cứu của Viện Các vấn đề An ninh và Kinh tế Đức phát biểu trên CNN rằng Mỹ khó có thể đưa các ngân hàng Nga quay lại SWIFT nếu không có sự phối hợp từ EU, bởi hệ thống này đặt trụ sở tại Bỉ.
Phát biểu tại một sự kiện dành cho doanh nghiệp Nga ở Moskva ngày 18/3, Tổng thống Putin cảnh báo rằng các công ty phương Tây sẽ khó trở lại thị trường Nga. Ông cho biết đã yêu cầu chính phủ rà soát kỹ lưỡng các thỏa thuận mua lại tài sản của doanh nghiệp phương Tây để xem xét từng trường hợp cụ thể. Putin nhấn mạnh ông tôn trọng những công ty vẫn duy trì hoạt động tại Nga, nhưng sẽ có cách đánh giá khác đối với những doanh nghiệp đã “đóng sập cửa” khi rời đi.
Những doanh nghiệp từng rời Nga do sức ép chính trị và bán tài sản với giá tượng trưng sẽ không được phép mua lại với mức giá đó. Ông Putin nói: “Một khi khoảng trống đã được doanh nghiệp Nga thay thế thì, như chúng tôi thường nói, con tàu đã rời bến.”
Vì vậy, ngay cả khi có cơ hội, các công ty Mỹ muốn trở lại hoặc tái đầu tư tại Nga cũng sẽ phải tự đặt câu hỏi: Liệu điều đó có thực sự đáng hay không?
